Múa lân, sư tử, rồng ngày tết

Dịp Tết và những ngày Xuân ở Việt Nam thường có rất nhiều cuộc vui mang đầy tính chất dân tộc và nét đẹp văn hóa cổ truyền như đánh đu, hội vật, hội võ, chọi trâu, hát bội, hội chùa…. đặc biệt là múa lân, sư tử, rồng.

Ngày nay, trước nhịp phát triển của thời đại, nhiều nơi đã quên đi nét đẹp xưa: những sinh hoạt nhân dịp lễ, hội Xuân. Tục “trồng nêu” hình như đã không còn thịnh hành như xưa, nếu không nói rằng mai một; thú chơi tranh, câu đối cũng dần bị lãng quên. Còn thú chơi hoa cũng chỉ còn loáng thoáng ở một số người yêu cái đẹp của thiên nhiên. Họa chăng là múa lân, sư tử, rồng vẫn còn được duy trì ở các địa phương.

Lân, sư tử, rồng là ba hình tượng của may mắn, thịnh vượng, sức khỏe và trung nghĩa. Tục muá lân, sư, rồng bắt đầu từ Trung Quốc. Đầu tiên là múa sư tử, kế là lân rồi sau cùng là rồng. Sư hay lân có hai loại: Bắc sư và Nam sư. Sư thì phải chế tạo cả con, tuy là sư nhưng mang nhiều đặc tính của mèo: thích được vuốt ve, thích đùa, thích ngũ. Rồng có ba loại: rồng tơ, rồng tròn và rồng cứng. Người dân ở các nước có tục múa lân, sư, rồng lại nghĩ cách thêm bớt theo quan điểm, thị hiếu… của mỗi nước nên các con lân, sư, rồng ngày nay đã biến dạng và nhiều màu sắc khác nhau.

Lân thì đầu tròn, lớn, gồm hai loại: có sừng và không sừng. Lân không sừng hình thù giống hổ, tượng trưng của tháng giêng (Dần). Đầu lân không sừng thường có sau gáy miếng vải đỏ viết nột chữ “Vương” lớn, mình có vòng đen. Nhưng cũng có loại lân nửa giống rồng, nửa giống lân. Thường đầu lân làm rất công phu, còn phần đuôi chỉ là mãnh vải thêu cho khéo và phân bố maù sắc cho phù hợp với nhân dáng của từng con. Lân thường có ba loại, tượng trưng cho ba anh em kết nghĩa vườn đào trong Tam Quốc diễn nghĩa” Lân mặt vàng (Lưu Bị); Lân mặt đỏ (Quan Vũ); Lân mặt đen (Trương Phi).

- Một Lân biểu diễn gọi là “Độc chiến ngao đầu” diễn tả tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi.

- Hai Lân cùng muá gọi là “Song hỉ” diễn tả niềm khoan khoái, tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như chồng với vợ, như trời với đất, như âm dương tương hợp.

- Ba Lân cùng múa thì phải đủ ba đầu vàng, đỏ, đen, gọi là “ Tam tinh”, mục đích cầu ba điều lành, chúc ba điều tốt cho con người là Phúc, Lộc, Thọ.

- Bốn Lân hợp múa thì có bốn đầu trắng, vàng, đỏ, đen ( hoặc xanh), gọi là “Tứ quý hưng long”, biểu thị sự sung mãn, trường thọ, hạnh phúc và sức khỏe dồi dào.

Múa lân phải có Ông Địa, hiện thân của Đức Di Lạc, người đã thu phục được lân từ từ thành hiền, từ ác thành thiện, từ giáng họa thành giáng phúc. Ông Địa luôn vui cười, xúng xính trong cái aó dài đỏ, phe phẩy cái quạt to, lúc thì quạt cho lân ngũ, lúc lại đánh thức lân dậy, dẫn lân đến nhà dân cầu phúc. Trống đánh trong các cuộc múa lân không thể thiếu. Trống đánh trong các cuộc múa lân gọi là “thất tinh cổ” (trống bảy sao). Người đánh trống phải là người trưởng phái hay phụ tá thứ nhất của trưởng phái. Tiếng trống đánh rất quan trọng. Trống lân như trống trận: khi khoan thai, khi dồn dập, khi chào, khi lạy, khi nằm, khi leo….nhất nhất tiếng trống phải phù hợp với bộ pháp cuả lân.

Tuy vậy múa lân vẫn dễ hơn múa sư tử nhiều. Múa lân thì có quyền thay người bất cứ lúcnào vì đầu và đuôi đều do hai hay nhiều người điều khiển mà không bị vướng bận. Còn khi múa sư tử, hai người phải lồng vào bộ vỏ giống hệt con sư trắng toát. Nếu muốn thay người thì phải dừng hẳn lại, rút chân tay ra, làm giảm cuộc vui. Múa sư chỉ cần các dụng cụ nhỏ. Để phụ họa cho thế dũng mãnh của lân, phải có những màn biểu diễn võ thuật. Các bài biểu diễn thường là côn, quyền, đao, kiếm, mã tấu, trường thương, đoản thương….đủ cả “thập bát ban võ nghệ”; biểu diễn xếp hình bằng cách chồng người lên nhau; thi triển công lực chém đá bẻ ngói….

Mỗi con lân hay con sư thường chỉ cần hai người múa, nhưng mỗi con rồng thì phải có có ít nhất 6 người, nhiều cũng cỡ 20 người vì con rồng rất dài, rất khó múa, nhất là khi nó uốn khúc hoặc đang phô diễn thần oai. Mọi bộ pháp phải ăn khớp nhịp nhàng, mới làm cho con rồng có dáng thanh thoát. Múa lân, sư hay rồng đều có những nét đặc biệt về nghệ thuật múa: Múa rồng phải dịu dàng, di chuyển bộ pháp đồng bộ để đầu đuôi tương hợp. Múa sư chỉ cần bộ dạng như những kịch sĩ, tức là mực thước. Còn múa lân tuy có khuôn phép nhưng đa dạng hơn.

Trong mấy ngày Xuân, nếu thiếu vắng tiếng trống khi nhặt, khi khoan, khi dồn dập và hình ảnh Ông Địa với chiếc quạt phe phẩy cầm tay, cùng lân, sư hay rồng như thiếu vắng một cái gì. Nhưng nếu ngày Xuân có lân, sư, rồng nhảy múa cùng Ông Địa trong một cảnh như Sư tử hí cầu, Long lân tương hội… giữa khí thế rộn ràng của trống Thất tinh, cái nhộn nhịp nôn nao, hồi hộp chờ đợi của mọi người khi lân từng bước và từng bước leo lên ….ngoạm tiền trong tiếng vỗ tay cổ vỏ của bao nhiêu người, cộng với tiếng đì đùng của bánh pháo. Chúng ta mới nhận thấy được cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc trong ngày Tết cổ truyền càng được thễ hiện rõ nét.

(sưu tầm)